Lịch sử dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX đặt ra yêu cầu bức thiết phải tìm ra một con đường cứu nước đúng đắn. Trong bối cảnh các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản lần lượt thất bại, dân tộc ta lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối và giai cấp lãnh đạo cách mạng. Chính trong hoàn cảnh đó, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3 tháng 2 năm 1930 đã trở thành một tất yếu lịch sử.
Dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – người đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam – ba tổ chức cộng sản được thống nhất thành một đảng duy nhất: Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã xác định rõ mục tiêu chiến lược là làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Sự ra đời của Đảng đã chấm dứt tình trạng phân tán, khủng hoảng về tổ chức và đường lối, đưa phong trào cách mạng Việt Nam bước sang một giai đoạn phát triển mới – có tổ chức lãnh đạo thống nhất, có đường lối khoa học và cách mạng.
Một trong những minh chứng hùng hồn nhất cho vai trò lãnh đạo của Đảng là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong điều kiện vô cùng khó khăn, lực lượng cách mạng còn non trẻ, Đảng đã nắm bắt đúng thời cơ lịch sử, phát huy cao độ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lãnh đạo Nhân dân vùng lên giành chính quyền trên phạm vi cả nước. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ ách thống trị của thực dân, phong kiến; khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và quốc tế sâu sắc, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.
Sau Cách mạng Tháng Tám, nước Việt Nam non trẻ phải đối mặt với muôn vàn khó khăn: thù trong, giặc ngoài, nạn đói, nạn dốt và nguy cơ tái xâm lược của thực dân Pháp. Trong hoàn cảnh đó, Đảng đã đề ra đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế.
Đỉnh cao của cuộc kháng chiến là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, một chiến công “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Chiến thắng này khẳng định trí tuệ, bản lĩnh và năng lực lãnh đạo chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước, Đảng đã thể hiện tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh kiên cường và nghệ thuật lãnh đạo cách mạng xuất sắc. Bằng đường lối chiến tranh nhân dân sáng tạo, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thắng lợi này không chỉ là chiến công vĩ đại của dân tộc Việt Nam mà còn có ý nghĩa quốc tế to lớn, góp phần làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân mới trên phạm vi toàn cầu.
Sau khi đất nước thống nhất, Việt Nam bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện xuất phát điểm thấp, hậu quả chiến tranh nặng nề, lại bị bao vây, cấm vận kéo dài. Trước yêu cầu cấp bách của thực tiễn, Đại hội VI của Đảng (1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước.
Gần 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện: Kinh tế tăng trưởng khá liên tục; quy mô nền kinh tế ngày càng mở rộng; Việt Nam từ nước nghèo vươn lên nhóm nước có thu nhập trung bình; đời sống Nhân dân được cải thiện rõ rệt; công tác xóa đói giảm nghèo đạt nhiều kết quả được cộng đồng quốc tế đánh giá cao; hệ thống chính trị được củng cố; quốc phòng, an ninh được tăng cường; chủ quyền quốc gia được giữ vững; đối ngoại và hội nhập quốc tế không ngừng mở rộng; Việt Nam khẳng định vai trò là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Những thành tựu đó là minh chứng sinh động cho sự đúng đắn của đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo.
Đảng luôn xác định xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt. Trong những năm gần đây, công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ được đẩy mạnh; công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được triển khai mạnh mẽ, đồng bộ, quyết liệt, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Những kết quả đó đã góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và chế độ.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tổng kết sâu sắc lý luận và thực tiễn 40 năm đổi mới, tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối đổi mới; xác định tầm nhìn, mục tiêu phát triển đến giữa thế kỷ XXI, hướng tới xây dựng Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội XIV cũng nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là dịp để khẳng định một chân lý lịch sử: sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Với bản lĩnh, trí tuệ và kinh nghiệm đã được tôi luyện qua gần một thế kỷ, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tiếp tục lãnh đạo Nhân dân ta vững bước trên con đường xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, hiện thực hóa khát vọng phát triển Việt Nam hùng cường trong thế kỷ XXI.
Một số dấu mốc quan trọng trong 96 năm qua của Đảng Cộng sản Việt Nam:
1. Ngày 3/2/1930 – Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam: Dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ba tổ chức cộng sản được hợp nhất thành một đảng duy nhất, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo của cách mạng Việt Nam, đề ra Cương lĩnh chính trị đầu tiên, xác định con đường cách mạng đúng đắn: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc; cách mạng Việt Nam từ đây có Đảng lãnh đạo thống nhất.
2. Cao trào cách mạng 1930–1931 và Xô viết Nghệ – Tĩnh: Lần đầu tiên Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh rộng lớn của công – nông, hình thành chính quyền cách mạng sơ khai ở một số địa phương, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và sức mạnh quần chúng nhân dân.
3. Tháng 8/1945 – Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám: Đảng lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới: độc lập dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội.
4. Ngày 19/12/1946 – Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp: Đảng đề ra đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, thể hiện bản lĩnh và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong lãnh đạo chiến tranh cách mạng.
5. Ngày 7/5/1954 – Chiến thắng Điện Biên Phủ: Đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống Pháp, buộc Pháp ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, công nhận độc lập, chủ quyền của Việt Nam và các nước Đông Dương. Đây là thắng lợi mang tầm vóc thời đại, cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc toàn thế giới.
6. Năm 1960 – Đại hội III của Đảng: Xác định nhiệm vụ chiến lược: Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
7. Ngày 30/4/1975 – Đại thắng mùa Xuân: Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
8. Năm 1976 – Đại hội IV của Đảng: Đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam, đề ra đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước, đánh dấu giai đoạn cả nước thống nhất dưới sự lãnh đạo của một Đảng duy nhất.
9. Năm 1986 – Đại hội VI: Khởi xướng công cuộc Đổi mới, chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới tư duy kinh tế, quản lý và phát triển đất nước. Đây là bước ngoặt lịch sử, mở ra thời kỳ phát triển mới cho đất nước.
10. Giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng (1995 đến nay): Việt Nam gia nhập ASEAN (1995), WTO (2007); tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.
11. Đại hội XII, XIII – Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng: Tăng cường phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và chế độ.
12. Đại hội XIV của Đảng: Tổng kết sâu sắc 40 năm đổi mới, định hướng chiến lược phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI, xây dựng Việt Nam phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là dấu mốc quan trọng mở ra giai đoạn phát triển mới của đất nước.