Điện Biên là vùng đất biên cương của Tổ quốc, nơi hội tụ và sinh sống của 19 dân tộc anh em với bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa lâu đời.

 

Qua quá trình hình thành và phát triển, các dân tộc trên địa bàn tỉnh đã tạo dựng được một kho tàng văn hóa đặc sắc, đa dạng, phong phú. Trong đó, mỗi dân tộc là những nét văn hóa đặc trưng, độc đáo với những thiết chế văn hóa xã hội truyền thống; phong tục tập quán trong sản xuất, sinh hoạt, trong tín ngưỡng; ẩm thực, trang phục; nghề thủ công truyền thống; lễ hội dân gian; trò chơi dân gian; nghệ thuật dân gian... Tất cả những điều đó đã trở thành yếu tố hấp dẫn, thu hút du khách đến trải nghiệm và khám phá Ðiện Biên.

Trong bức tranh đa sắc màu ấy, cộng đồng dân tộc Lào đã và đang góp phần tạo nên những dấu ấn riêng, làm phong phú thêm bản sắc văn hóa các dân tộc tỉnh Điện Biên.

Dân tộc Lào là một trong số những dân tộc có mặt sớm ở vùng đất Điện Biên, sinh sống tập trung ở các xã: Thanh Yên, Núa Ngam, Mường Nhà, Mường Luân, Tìa Dình, Phình Giàng ... chủ yếu dọc theo các dòng suối và cạnh vành đai biên giới Việt - Lào. Đó là những thung lũng gần các dòng suối, hàng năm, đến mùa mưa lũ về bồi đắp phù sa cho các vùng đó làm cho đất đai màu mỡ. Trên dải đất Tây Bắc hùng vĩ của Tổ quốc, giữa đại ngàn núi rừng trùng điệp, dân tộc Lào đã sinh sống và gìn giữ một kho tàng văn hóa truyền thống vô cùng phong phú và độc đáo như tập quán xã hội, lễ hội truyền thống, nghệ thuật trình diễn dân gian. Tiêu biểu trong số đó có các di sản văn hóa phi vật thể đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia gồm: Lễ Tết Té nước (Bun Huột Nặm), Nghệ thuật múa dân gian và Nghệ thuật trang trí trên trang phục truyền thống.

Tết Té nước (Bun Huột Nặm) - một trong những lễ hội quan trọng và độc đáo nhất trong năm của người Lào. Đây không chỉ là thời khắc chuyển giao năm cũ - năm mới theo lịch truyền thống, mà còn là dịp để gột rửa bụi trần, cầu chúc sức khỏe, hạnh phúc và mùa màng bội thu. Trong tiếng Lào Bun có nghĩa là lễ hội hoặc tết hay còn có nghĩa là phúc, huột dịch ra là té, nặm là nước, Bun Huột Nặm vì thế được hiểu là lễ hội té nước hoặc tết té nước. Theo phong tục, Bun Huột Nặm được tổ chức ngày thứ nhất diễn ra lễ cúng bản (căm bản), từ ngày thứ hai đến thứ tư là các hoạt động chính gồm cúng tổ tiên, cầu mưa, trò chơi dân gian và múa lăm vông. Từ năm 2015, lễ cúng bản được tổ chức vào dịp Tết Nguyên đán, còn lễ cầu mưa và các trò chơi vẫn diễn ra đúng ngày 13-15/4 hàng năm theo Phật lịch.

Nghi thức đầu tiên là cúng tổ tiên, trong những ngày này mỗi gia đình thắp hương, mời ông bà, tổ tiên về ăn Tết. Sau đó là lễ cầu mưa - đây là một trong những nghi lễ chính của Bun Huột Nặm. Tết té nước diễn ra vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa - thời điểm bà con chuẩn bị sản xuất nông nghiệp, gieo hạt rất cần mưa. Vì vậy, lễ cầu mưa thể hiện khát vọng xin trời đất và thần linh ban cho những cơn “mưa vàng, mưa bạc” để cây xanh tốt, mùa màng bội thu.

Trong đời sống văn hóa tinh thần của người Lào, nghệ thuật múa truyền thống là một phần không thể tách rời trong đời sống tinh thần và trong các dịp lễ hội của người Lào. Đó không chỉ là hình thức giải trí mà còn là phương tiện truyền tải tâm hồn, tín ngưỡng và triết lý sống của cộng đồng. Đây cũng là một trong những di sản mang dấu ấn đặc trưng của người Lào ở Điện Biên, đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Những điệu múa truyền thống của dân tộc Lào được hình thành, phát triển thông qua lao động, sản xuất, sự giao tiếp của cộng đồng, là kết quả sáng tạo của nhiều thế hệ, được tồn tại, lưu giữ trong đời sống. Với người Lào, múa là cầu nối giữa con người với trời đất, tổ tiên và cộng đồng, là cách thể hiện sự tôn kính, lòng biết ơn và khát khao về cuộc sống an lành, mùa màng bội thu.

Hiện nay người Lào trên địa bàn tỉnh Điện Biên đang lưu giữ các điệu múa truyền thống như: múa Lăm Vông, múa hoa Chăm Pa, múa Khèn bè, múa Kéo sợi và múa Làm nương. Trong đó múa Lăm vông là điệu múa xuất hiện sớm nhất, được dùng phổ biến trong đời sống văn hóa, văn nghệ thường ngày của người Lào, đặc biệt trong các dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng, các sự kiện trọng đại của bản như: Mừng năm mới, mừng nhà mới, trong các dịp lễ hội, liên hoan văn nghệ.... Điệu múa Lăm Vông đã trở thành hình thức sinh hoạt tập thể vui tươi, có tác dụng giáo dục thẩm mỹ, kết nối tình hữu nghị giữa các dân tộc mà còn tôn lên vẻ duyên dáng dịu dàng của những cô gái dân tộc Lào.

 Bên cạnh lễ hội và nghệ thuật múa, nghệ thuật trang trí trên trang phục truyền thống của người Lào cũng là một di sản văn hóa độc đáo, phản ánh rõ nét sự khéo léo và óc sáng tạo của người phụ nữ. Đối với người Lào trang phục không chỉ đơn thuần là vật dụng dùng để che chắn cơ thể mà còn là một tác phẩm nghệ thuật thực thụ, nơi hội tụ của kỹ thuật dệt thủ công, kỹ thuật nhuộm màu, kỹ thuật trang trí, tính thẩm mỹ và những thông điệp mang chiều sâu văn hóa, tín ngưỡng.

Để hoàn thiện một bộ trang phục truyền thống, người phụ nữ dân tộc Lào phải có sự chuẩn bị rất kỹ lưỡng từ các công đoạn trồng bông, se sợi, dệt vải, nhuộm vải và trang trí hoa văn. Màu sắc của trang phục được nhuộm từ các nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên như màu đen và xanh từ cây chàm, màu nâu từ củ nâu hoặc cây nắng có, màu vàng từ củ nghệ hoặc vỏ cây phặng và cây hoàng đằng, màu vàng nhạt từ cây mít, màu cam từ cây mắc xét, màu đỏ từ cánh kiến. Theo các nghệ nhân dệt thổ cẩm dân tộc Lào có khoảng gần 300 họa tiết, hoa văn được thể hiện trên trang phục truyền thống. Các loại hoa văn này chủ yếu được thể hiện dưới các dạng mô típ là hoa văn hình học, hoa văn thực vật và hoa văn động vật, hoa văn hình mái chùa, tháp, … thường được thể hiện trên váy và khăn của người phụ nữ. Các hoa văn được bố trí một cách linh hoạt, lồng ghép, móc nối... trên nền vải nhưng không làm phá vỡ bố cục chung của bộ trang phục.

Có thể nói nghệ thuật trang trí trên trang phục truyền thống có vai trò hết sức to lớn đối với người dân tộc Lào, nó chứa đựng những giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và thẩm mỹ qua đó cũng thể hiện trình độ thủ công truyền thống, quan điểm thẩm mỹ, lối sống, phong tục tập quán, bản sắc văn hóa riêng có của người Lào.

Trong thời gian qua, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tích cực tham mưu cho tỉnh ban hành nhiều Nghị quyết, Đề án, Kế hoạch nhằm bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc tỉnh Điện Biên. Công tác xét tặng nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể; công tác kiểm kê, lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể; công tác kiểm kê, đánh giá về di sản văn hóa phi vật thể dân tộc Lào được quan tâm triển khai, góp phần quan trọng trong việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc Lào.

Giữa núi rừng Điện Biên hùng vĩ, những lễ hội truyền thống, những điệu múa uyển chuyển hay những bộ trang phục rực rỡ vẫn đang được cộng đồng người Lào gìn giữ như một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa. Dẫu thời gian có trôi và nhịp sống có nhiều đổi thay, những giá trị văn hóa ấy vẫn được trao truyền qua nhiều thế hệ, như sợi dây bền chặt kết nối quá khứ với hiện tại, góp phần khẳng định bản sắc văn hóa riêng của dân tộc Lào trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

 

 


Đánh giá:

lượt đánh giá: , trung bình:



 Liên kết website
Thống kê: 12.108.851
Online: 90