Ngày 28 tháng 1 năm 1941 là một mốc son chói lọi trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Sau hơn 30 năm bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm con đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XIX.

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Bến Nhà Rồng, bắt đầu hành trình tìm con đường giải phóng dân tộc. Trong hơn 30 năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Người đã đi qua nhiều quốc gia, tiếp xúc với các trào lưu tư tưởng tiến bộ, tham gia phong trào công nhân và phong trào cộng sản quốc tế.

Năm 1920, tại Đại hội Tours của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ chủ nghĩa yêu nước, Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam: con đường cách mạng vô sản.

Trong những năm tiếp theo, Người tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925), chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3/2/1930. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử, Người chưa thể về nước ngay mà tiếp tục hoạt động ở nước ngoài để bảo vệ và củng cố phong trào cách mạng.

Đầu năm 1940, tình hình thế giới có nhiều biến chuyển mau chóng. Ngày 15/6/1940, phát xít Đức tấn công nước Pháp. Một ngày sau, quân Đức tiến vào Thủ đô Pari bỏ ngỏ. Ngày 22/6/1940, Chính phủ Pêtanh chấp nhận mọi điều kiện đầu  hàng phát xít Đức. Người nhận định “Đây là thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước để tranh thủ nắm thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”. Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc quyết định trở về Tổ quốc. Ngày 28/1/1941, Người vượt mốc 108 tại cột mốc biên giới Việt – Trung, chính thức đặt chân lên mảnh đất quê hương sau hơn ba thập kỷ xa cách. Người lựa chọn Cao Bằng làm điểm đặt chân đầu tiên vì nhận định đây là vùng đất hội tụ đủ “thiên thời, địa lợi, nhân hoà” để xây dựng căn cứ địa cách mạng của cả nước. Người nhấn mạnh: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi”. 

Những ngày đầu mới về nước, Bác Hồ ở tại gia đình cơ sở cách mạng. Để bảo đảm bí mật, từ ngày 8/2/1941, Bác chọn hang Pác Bó (xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng) làm nơi ở và hoạt động cách mạng. Trong điều kiện vô cùng gian khổ, thiếu thốn, Người vẫn giữ tinh thần lạc quan, tin tưởng tuyệt đối vào thắng lợi của cách mạng.

Tại Pác Bó, tháng 5 năm 1941, Bác chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng. Hội nghị đã đưa ra những quyết định mang tính chiến lược, trong đó nổi bật là việc xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất để tập trung đoàn kết toàn dân chống đế quốc, phát xít. Hội nghị cũng quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh), xây dựng lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng và chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến. Đây là những quyết sách có ý nghĩa sống còn, tạo tiền đề trực tiếp cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Sau Hội nghị Trung ương 8, phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ trên cả nước do Đảng và Việt Minh lãnh đạo. Nhiều địa phương xây dựng căn cứ địa cách mạng. Ở miền Bắc, có căn cứ địa Cao Bằng do Bác cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và một số đồng chí khác lãnh đạo. Căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai do Thường vụ Trung ương lãnh đạo. Hai căn cứ đó phát triển thành Khu giải phóng Việt Bắc có ảnh hưởng phong trào toàn quốc. Tại Cao Bằng, Bác Hồ nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp: Phải lo tập hợp đoàn kết toàn dân là việc trước hết, “người trước, súng sau”. Đó là tư tưởng đặc sắc của Hồ Chí Minh.

Đến cuối năm 1944, trước yêu cầu thực tiễn và thời cơ có nhiều biến chuyển, Bác chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Ngày 22/12/1944, Đội được thành lập tại khu rừng thuộc Nguyên Bình (tỉnh Cao Bằng), gồm 34 chiến sĩ với 34 khẩu súng các loại, chia làm 3 tiểu đội, có chi bộ Đảng lãnh đạo, do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm chỉ huy. Sau hai ngày thành lập, Đội lần lượt giành thắng lợi ở Phai Khắt (25/12/1944) và Nà Ngần (26/12/1944), gây tiếng vang lớn, cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng trong cả nước.

Trước những thời cơ quan trọng, tháng 5/1945, Người quyết định chuyển trung tâm lãnh đạo từ Pác Bó về Tân Trào (tỉnh Tuyên Quang) để thuận tiện cho việc chỉ đạo phong trào chung toàn quốc; chỉ thị thành lập Khu giải phóng Việt Bắc; thống nhất lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân và kêu gọi tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Ngày 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc được thành lập. Đêm 13/8/1945, Đảng phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước. Ngày 16-17/8/1945, Đại hội Quốc dân họp tại Tân Trào (Tuyên Quang), thông qua quyết định tổng khởi nghĩa, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh và bầu Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngày 19/8/1945, Nhân dân Hà Nội dưới sự lãnh đạo của Việt Minh đã vùng lên giành chính quyền thắng lợi. Tiếp đó, Huế giành chính quyền ngày 23/8/1945, triều đình phong kiến nhà Nguyễn sụp đổ; vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị. Ngày 25/8/1945 Sài Gòn, Gia Định và hầu hết các tỉnh Nam Bộ giành được chính quyền. Đến ngày 28/8/1945, chính quyền cách mạng đã được thiết lập trên phạm vi cả nước. Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, trịnh trọng tuyên bố với thế giới sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Việc Bác Hồ về nước lãnh đạo cách mạng đã đáp ứng yêu cầu bức thiết của lịch sử, đưa phong trào cách mạng Việt Nam vượt qua những khó khăn, thử thách, từng bước đi đến thắng lợi hoàn toàn. Từ đây, cách mạng Việt Nam có sự lãnh đạo trực tiếp, thống nhất và sáng suốt của lãnh tụ thiên tài, kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận cách mạng và thực tiễn phong phú của đất nước. Sự kiện này cũng thể hiện sâu sắc lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần hy sinh cao cả và niềm tin mãnh liệt của Bác Hồ vào sức mạnh của nhân dân Việt Nam. Người trở về không phải để hưởng vinh quang, mà để cùng nhân dân chịu đựng gian khổ, đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Kỷ niệm ngày Bác Hồ về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta ôn lại truyền thống cách mạng vẻ vang, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân tộc. Trong giai đoạn hiện nay, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa thiết thực, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam nguyện ra sức phấn đấu, rèn luyện, cống hiến, quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xứng đáng với mong ước và di huấn thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu.

 

 


Đánh giá:

lượt đánh giá: , trung bình:



 Liên kết website
Thống kê: 11.831.613
Online: 55