Trong suốt hơn 90 năm qua, kể từ khi ra đời vào ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn là lực lượng lãnh đạo, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Dưới ngọn cờ của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, giành độc lập, thống nhất đất nước và vững bước trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trước năm 1930, phong trào yêu nước Việt Nam tuy sôi nổi nhưng thiếu đường lối đúng đắn và tổ chức lãnh đạo thống nhất, nên nhiều cuộc khởi nghĩa thất bại. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả tất yếu của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đảng ra đời đã chấm dứt khủng hoảng về đường lối cứu nước, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Đảng lãnh đạo kháng chiến chống Thực dân Pháp (1945 - 1954): đưa đến chiến thắng vĩ đại trong lịch sử dân tộc
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, tuy nhiên, nền độc lập ấy mới giành được đã phải đối mặt với vô vàn khó khăn: thù trong giặc ngoài, kinh tế kiệt quệ, nạn đói, nạn dốt hoành hành, và đặc biệt là âm mưu quay trở lại xâm lược của thực dân Pháp với sự giúp sức của các thế lực đế quốc. Trong bối cảnh hiểm nghèo ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và tầm nhìn chiến lược sáng suốt.
Ngay từ đầu, Đảng đã xác định đường lối “toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh” cho cuộc kháng chiến. Đó là tư tưởng xuyên suốt trong tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” (1947) của đồng chí Trường Chinh - văn kiện quan trọng định hướng cho cách mạng Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân đoàn kết một lòng, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, kết hợp kháng chiến và kiến quốc.
Đảng chủ trương xây dựng căn cứ địa kháng chiến, phát triển lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng hậu phương vững mạnh. Những chủ trương đúng đắn ấy đã đưa đến hàng loạt chiến thắng quan trọng: Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 đập tan chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp; Chiến dịch Biên giới Thu - Đông 1950 mở ra bước ngoặt lớn, phá thế bao vây, mở rộng vùng giải phóng và thông thương với các nước xã hội chủ nghĩa anh em; Chiến dịch Trung du và Đường số 18 (1951), Hòa Bình (1951-1952), làm tiêu hao lớn lực lượng Pháp; Chiến dịchTây Bắc (1952) và Thượng Lào (1953) đã mở rộng vùng giải phóng, củng cố liên minh chiến đấu Việt - Lào.
Đặc biệt, Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy Trung ương, là đỉnh cao của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nhân dân. Chỉ trong 56 ngày đêm “khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt”, quân dân ta đã làm nên chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh, công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Chiến thắng ấy là kết quả của đường lối lãnh đạo đúng đắn, độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng đã biết kết hợp khéo léo giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, giữa đấu tranh quân sự và ngoại giao, giữa chiến trường và hậu phương. Qua đó, Đảng khẳng định vai trò là hạt nhân lãnh đạo, là nhân tố quyết định thắng lợi của kháng chiến chống Pháp.

Đảng lãnh đạo giành chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 "Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu"
Đảng lãnh đạo kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975): Hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, đất nước tạm thời chia cắt làm hai miền: miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam nằm dưới ách thống trị tàn bạo của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm. Trước tình hình đó, Đảng đã xác định rõ nhiệm vụ chiến lược của cách mạng: miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội là nền tảng vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Đảng đã đề ra đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, chủ trương kết hợp đấu tranh chính trị, vũ trang và ngoại giao. Sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (1960) là minh chứng cho đường lối đúng đắn ấy – tập hợp mọi tầng lớp nhân dân yêu nước, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc để cùng nhau đấu tranh chống Mỹ – ngụy.
Ở miền Bắc, Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế, đồng thời làm tròn nghĩa vụ hậu phương lớn, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam. Những khẩu hiệu “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” đã trở thành biểu tượng của tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường và niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng.
Dưới sự chỉ đạo tài tình của Đảng, quân và dân ta đã làm nên những chiến công vang dội: Chiến thắng Ấp Bắc (1963), Chiến dịch Mậu Thân (1968), Chiến dịch Đường 9 Nam Lào (1971), Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (1972). Đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thắng lợi vĩ đại này là kết tinh của lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, ý chí kiên cường của Nhân dân, nhưng trên hết là thành quả của sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, kiên định và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính Đảng đã hoạch định đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, phát huy cao độ sức mạnh toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ sự ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới.

Nhân dân Sài Gòn diễu hành mừng thành phố được giải phóng (ngày 15/5/1975.) (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là những bản hùng ca bất tử của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. Mỗi thắng lợi vĩ đại ấy đều mang dấu ấn sâu đậm của Đảng cộng sản Việt Nam - người tổ chức, lãnh đạo và là linh hồn của cách mạng Việt Nam. Vai trò của Đảng không chỉ thể hiện ở đường lối đúng đắn và chiến lược tài tình, mà còn ở việc tập hợp, phát huy sức mạnh toàn dân, đưa dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm rạng rỡ non sông đất nước.
Sau năm 1975, đất nước bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội với muôn vàn khó khăn. Trước yêu cầu mới của thực tiễn, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới từ năm 1986, mang lại những thành tựu to lớn: kinh tế tăng trưởng, đời sống nhân dân được cải thiện, vị thế quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao. Đảng luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập và phát triển.